Liên hệ

 
 

 

 

 

TẠP VĂN

Tạp văn

NGÂM THƠ

VỀ THĂM VƯỜN CŨ

Trang Học Làm Thơ

TRÁI TIM HỒNG

Nỗi buồn hoa súng

Hồi nhỏ, tôi rất thích hoa súng vì loài hoa này mọc rất nhiều ở Hoa Lư về mùa nước lụt. Đôi lúc cả một vùng đẹp như bức tranh thủy mặc. Sau này đi xa, có dịp vào bảo tàng tôi thường tìm ngắm tranh Monet vẽ hoa súng tuyệt vời

Nhớ Lưu Quang Vũ có câu thơ như ông biết được tiếng hoa
Nghe hoa súng bờ ao se sẽ nở
Da diết lòng hương dịu tự vườn cau…

Tháng trước, Tổng Cua đưa hai đứa nhỏ thăm khu du lịch Tràng An. Thuyền đi trên mặt nước trong xanh, thỉnh thoảng có đám hoa súng đang chúm chím nở rất đẹp. Định bụng lúc ra thế nào cũng chụp vài cái ảnh. Quay ra bến thì trời chiều, hoa súng đi ngủ hết, chả chụp được cái nào, tiếc mãi.

Người lái đò nói, hoa súng ở đây cũng phải trồng mới ra và thuyền bè không được đi vào đó. Du khách cấm không được vặt hoa. Vì ai cũng hái hoa về làm của riêng thì còn đâu cảnh đẹp thần tiên cho Tràng An.

Hôm nay xem báo Tiền Phong có ảnh người đẹp áo dài Vũ Ngọc Anh đẹp tuyệt trần đang thăm quê mình. Gương mặt thiên thần, nụ cười rạng rỡ.

Cứ ước là mình còn trẻ, là đại gia, nhiều tiền như bầu Kiên, cưới được người đẹp này. Nhưng xem đến ảnh cuối thì có lẽ mình thấy hợp với cô lái đò hơn :razz: :roll: ;)

Giới thiệu vài cái ảnh để các bạn chiêm ngưỡng. Ảnh trong entry lấy từ Tiền Phong online và lời bình của Cua Times.

Nếu ai cũng như Hoa hậu áo dài Vũ Ngọc Anh vặt bông hoa súng để chụp ảnh thì liệu rằng Tràng An có còn đẹp nữa hay không?

Giá như người đẹp nhớ mấy câu thơ Chế Lan Viên từng thảng thốt về loài hoa mong manh như chính nàng, lặng lẽ mang những niềm đau thì có lẽ nàng không nỡ vặt bông súng ấy
Màu hoa súng ấy như cơn đau không dám khóc
Chỉ lặng yên sắc tím để mà đau
Người đời chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu.

HM. 11-9-2012


NƯỚC MẮT CHẢY XUÔI
Chu Thụy Nguyên

Mỗi lần cùng bè bạn mang massage chairs vào Nursing Home để làm massage free cho những người già, lòng tôi luôn trĩu nặng. Mặc dù đang sống ở Mỹ và biết rõ rằng những người già ở Nursing Home (Việt Nam gọi là Viện Dưỡng Lão) luôn được chăm sóc chu đáo, tôi vẫn không khỏi xốn xang mỗi khi bước vào những nơi ấy. Bạn sẽ dễ dàng nhận ra một mùi đặc trưng kết hợp bởi mùi thuốc men và mùi thức ăn của Mỹ khi tiến vào khu ở của những người già tại đây. Tôi không khỏi chạnh lòng khi trước mắt mình những người già, tóc bạc phơ ngồi đây đó, hoặc trên những chiếc xe lăn. Họ ngồi như bất động, cũng có người nói thì thầm, lảm nhảm trong miệng điều gì đó. Có người lặng lẽ rơi nước mắt, cũng có người òa lên khóc như chợt nhớ đến điều gì bất hạnh trong đời. Đa phần là người Mỹ, thỉnh thoảng cũng có vài người Châu Á trong số đó có người Việt Nam. Mỗi lần nhìn thấy họ, tôi cứ tưởng trước mặt mình là những pho tượng bất động ở những kho chứa ma-nơ-canh nào đó. Đôi mắt họ sâu hút, buồn xa xăm. Cũng có lúc tôi có ý nghĩ họ là những chiến binh đã chiến đấu trường kỳ trên đường đời nghiệt ngã, cuối cùng đều đã thất trận, bàng hoàng cùng kéo nhau về ngồi lại chốn nầy. Có một điểm rất chung của họ là mọi con mắt đều đổ dồn nhìn về hướng cửa thang máy mỗi khi nó bật mở. Ngày qua ngày, họ luôn ngồi miệt mài nhìn về hướng đó với mong ước bất chợt sẽ có một ai đó, bè bạn hay người thân đến thăm.

Họ rất thích thú mỗi khi đến lượt được gọi tên lên ghế để được massage. Một phần là họ được xoa bóp những nơi mà lâu nay họ cảm thấy đau nhức, phần khác là họ có dịp để giải tỏa tâm sự với những người xa lạ, không phải là những gương mặt quá quen thuộc của các y tá. Họ thường nói rất nhiều về họ, về gia đình, con cái họ. Họ thường khoe những tấm ảnh chụp lúc cả gia đình họ đang hạnh phúc. Họ khoe hình ảnh từng đứa con với thành tích học hành hoặc nghề nghiệp của chúng. Mỗi một ngày làm việc ở Nursing Home chúng tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện và cũng học được rất nhiều điều từ họ. Trong số rất hiếm những người Việt Nam ở Viện Dưỡng Lão nầy chúng tôi đã gặp được dì Năm. Lần đầu tiên gặp được đồng hương tôi rất mừng, và dì Năm cũng đã mừng đến rơi lệ khi biết trong nhóm làm việc có tôi là người Việt Nam. Dì đã nắm tay tôi thật chặt, từ trên chiếc xe lăn dì ngước lên nhìn tôi mà mắt ướt đỏ hoe. Thoạt nhìn dì Năm, đầu óc tôi tự dưng hiện về những câu ví von mà tôi đã được học lúc còn ở Việt Nam:

- Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp một, như đường mía lau.
Lại cũng có câu hát nghe được như sau:
- Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi

Mỗi lần tôi mời dì đến để massage, dì Năm luôn xem tôi như một đứa con hay đứa cháu của dì. Dì đã tâm sự rất nhiều, tâm sự hết về cuộc đời của dì. Dì Năm là người gốc ở đồng ruộng miền tây Việt Nam. Do cuộc sống quá khó nhọc, dì lên Sài gòn tìm phương lập nghiệp rồi sau đó lập gia đình ở Sài gòn luôn. Chồng dì cũng là một người dân lao động tay chân từ miền quê Hậu Giang lên Sài gòn kiếm sống. Cuộc sống của hai vợ chồng thoạt đầu khá vất vả nhưng họ rất yêu thương nhau. Hai người đã cho ra đời hai đứa con bụ bẫm. Đứa con trai được đặt tên Quân, người con gái mang tên Thảo. Có hai đứa con gia đình có vui hơn thật, nhưng cuộc sống ngày càng chật vật hơn. Chồng của dì Năm sau nầy lại sinh tật nghiện rượu nặng và tật cờ bạc. Ông đã khiến cho gia đình vốn nghèo khó lại càng khốn đốn hơn. Tệ hại hơn nữa là càng ngày khi rượu vào thì lời ra, ông lại sinh tật về nhà đập đồ đạc và đánh đập vợ con. Dì Năm tuy buồn nhưng luôn cố gắng làm việc quần quật để có thể có đủ tiền nuôi cho hai con ăn học nên người. Dì đã không nề hà bất cứ việc gì từ gánh nước mướn, giặt đồ mướn, thậm chí ở đợ cho người ta. Năm 1978 chồng dì qua đời vì nghiện rượu, sau đó Dì vô Chợ lớn ở đợ cho một gia đình Hoa Kiều. Họ rất thương cho hoàn cảnh của dì nên khi đóng ghe đi vượt biên họ đã cho dì và hai đứa nhỏ đi theo.

Đến Mỹ, do không biết tiếng Anh, cuộc sống của dì tiếp tục tay làm hàm nhai. Tuy nhiên, dù sao đi nữa cuộc sống ở Mỹ của dì vẫn đỡ khổ hơn những ngày lầm than thê thảm ở Việt Nam. Dì luôn tất bật trên xứ người, làm đủ mọi việc từ lặt rau, phụ bếp nhà hàng Việt Nam cho đến làm cá, chặt thịt ở chợ, miễn sao dì có thể kiếm đủ tiền lo cho hai đứa con ăn học trên xứ người. Con của dì cả hai đều không học lên cao, đứa nào cũng cố cho xong lớp 12 rồi đi tìm việc làm. Đứa con gái học và đi làm nails, đứa con trai học và theo một số người Việt Nam làm nghề lót sàn nhà. Năm năm sau, con gái của dì mua nhà, dì và đứa con trai về ở chung với nó. Ngày trước lúc mới qua Mỹ, dì thuê nhà cho con cái có chỗ ở với dì. Hai đứa con dì ăn ở bày bừa ra đầy nhà mỗi ngày. Dì vừa lo đi làm kiếm cơm tất bật, về đến nhà vừa lo thu vén, dọn dẹp ngăn nắp. Từ khi đứa con gái mua nhà, dì ở chung với chúng, mỗi ngày chúng luôn nhắc nhở, nặng nhẹ dì đủ điều, nào là phải quét nhà, lau nhà, phải đổi dép đi trong nhà. Mỗi cuối tuần khi chúng ở nhà, chúng luôn cằn nhằn dì mỗi khi chúng lau dọn:
- Má! Ở đây là Mỹ, không phải là những ổ chuột như ở Việt Nam, má phải ăn ở cho sạch sẽ, ngăn nắp.

Mỗi năm gia đình có hai ngày giỗ, một ngày giỗ bà ngoại và một ngày giỗ ba của sắp nhỏ. Hồi trước dì thuê nhà cho con ở, mỗi khi làm đám giỗ dì đều đốt đèn cầy, đốt nhang để tưởng nhớ đến người quá cố mà chẳng có đứa nào nói gì. Nay ở nhà của chúng, nghe đầy lỗ tai, buộc dì phải biết kiêng, biết dè chừng. Thay vì đốt 3 cây nhang cho người quá cố, dì chỉ đốt một cây thôi. Tuy vậy, con gái dì vẫn chưa thấy hài lòng, nó đề nghị dì ra chợ tìm mua nhang bằng điện về cúng, còn đèn cầy thì dứt khoát không được đốt. Đứa con gái cằn nhằn khói nhang sẽ bám trần nhà, còn đứa con trai thì lén mẹ đem vứt bó nhang thơm ngắn vào túi rác. Dì Năm cho biết dì có tài nấu ăn ngon, các con dì từ bé đến khi lớn khôn đều mê những món ăn ngon của mẹ. Rồi bỗng một hôm, chúng yêu cầu dì không được nấu ăn trong nhà nữa, mọi thứ cứ để chúng lo. Chúng bắt đầu chê món ăn Việt Nam là hôi thúi. Chúng bắt đầu tập cho dì Năm làm quen với món Spaghetti, Marcaroni, Hamburger, Hot dog…. Chúng yêu cầu dì phải tập xa lìa với nồi cá kho, nồi thịt kho hột vịt, món bún bò, món bánh canh cua... Cũng kể từ hôm đó nước mắm trong nhà đã đội nón ra đi, thay vào đó là chai xì dầu hiệu Maggi. Những món ăn Mỹ bỗng trở nên xa lạ, nhạt nhẽo thế nào đó đối với dì. Cuộc sống bất ngờ phải lìa xa mọi thứ quen thuộc đã từng ăn sâu vào máu, vào xương tủy của mình.

Rồi một ngày nọ, trong bữa ăn chiều của gia đình, hai đứa con của dì đã cho dì biết là dì phải chuẩn bị tìm phòng để thuê, chúng sẽ lấy nhà lại để bán, vì được giá. Dì Năm đã chạy đôn chạy đáo để tìm cho ra một chỗ cho share phòng. Cuối cùng dì cũng được một bà cụ Việt Nam thương tình cho hoàn cảnh của dì, đã đồng ý cho dì về sống chung. Kể từ hôm dì dọn ra, chỉ vỏn vẹn quần áo và giấy tờ trong một chiếc vali cỡ trung và hai bức ảnh của hai người thân đã quá cố. Hai đứa con của dì cũng chẳng màng đến việc đi tìm xem mẹ mình ở đâu và sống ra sao. Ngày qua ngày mòn mỏi, dì Năm buồn lắm, nhưng trong lòng dì cảm giác buồn các con thì ít mà lo cho các con thì nhiều. Nhiều đêm dì trằn trọc không sao ngủ được, cứ lo không biết hai đứa nó bán nhà rồi ở đâu, hai đứa nó biết ăn uống ra sao? Ngày xưa lúc chúng còn bé, hễ hôm nào kiếm được khá tiền một chút là dì vội chạy ra chợ mua món ngon vật lạ về nấu những món ngon cho con. Bây giờ chúng bán nhà rồi đi đâu? Ai có thể nấu cho chúng những món ăn ngon mà chúng vừa miệng nhất? Thức ăn Mỹ tuy lạ nhưng nhạt nhẽo, lạ kỳ, rồi đây chúng sẽ chán cho coi! Tiếng thở dài của dì vẫn hằng thườn thượt trong đêm. Cả tháng sau đó trôi đi, Dì chẳng còn hy vọng trông thấy bóng dáng hai đứa con dì hằng yêu thương xiết bao. Mỗi khi ra chợ gặp những người đồng hương, dì thường hỏi xem có ai đã thấy hay biết hai đứa con của mình ở đâu không? Không ai có thể giúp dì giải đáp thắc mắc đáng thương nầy. Cho đến một hôm, do quá lao lực và lo rầu thương nhớ con không ngủ được, dì đã bất ngờ ngã bệnh và bị stroke. Dì đã được những người đồng hương gọi 911 chở đi cấp cứu, dì đã bị liệt nhẹ một chi. Sau thời gian ở bệnh viện, người ta đã không tìm ra thân nhân của dì nên cuối cùng dì đã được chở vào Nursing Home nầy để chăm sóc. Từ ngày ấy đến nay dì đã ở đây, hằng ngày vẫn ngồi trên chiếc xe lăn, mắt luôn hướng nhìn về phía cửa thang máy. Đôi mắt dì ngày như càng sâu hơn, hun hút, vô vọng khi bóng dáng các con dì ngày càng biền biệt xa hơn. Lần nào thấy tôi vào dì cũng rất mừng, níu chặt tay tôi hỏi dồn dập :
- Con có thấy thằng Quân, con Thảo con của dì không con? Chắc con gặp tụi nó rồi phải không con? Tụi nó có nói chừng nào vô thăm dì không con? Tội nghiệp! Hai đứa nó ngoan lắm con! Nếu con gặp tụi nó ở đâu nhớ cho dì biết để dì xin về, đi chợ nấu ăn cho tụi nó nghe con? Tội nghiệp cái thằng Quân nó thích ăn bún bò dì làm lắm con. Còn con Thảo, cái con nầy hổng biết sao mà nó mê món bún riêu dì Năm nấu lắm con!...

Lần khác, trước khi tôi chia tay dì ra về, dì níu chặt tay tôi nói trong nước mắt:
- Con ơi! Làm ơn có gặp thằng Quân, con Thảo nhớ nói dùm là dì nhớ tụi nó nhiều lắm nhe con! Nói với tụi nó cho dì gặp tụi nó một lần thôi cũng được nhe con! Hổm rày không có dì lo cho tụi nó ăn uống chắc tụi nó ốm yếu, tội nghiệp lắm con ơi! Sao dì lo cho tụi nó quá con ơi!...

Một lần khác dì đã tâm sự với tôi, lúc các con dì bán nhà, dì có ý định: thôi con mình nó không thích mình ở làm phiền nó thì mình trở về Việt Nam, quê hương chôn nhau cắt rún của mình vậy! Lúc đó dì chưa có đủ tiền để trở về, dì định làm thêm một thời gian nữa, dành dụm rồi về sau cũng được. Nào ngờ, bây giờ trong hoàn cảnh nầy, dì biết rõ mọi thứ đã trở nên xa vời, thật xa vời, vuột khỏi tầm tay dì rồi. Chiếc xe lăn bây giờ ngày càng nặng nề hơn cùng với nỗi nhớ mong hai con ngày càng trì nặng trong lòng dì.

Tôi vội chia tay dì, quay bước nhanh vào thang máy trước khi kịp nhìn thấy nước mắt đầm đìa trên gương mặt xương xẩu của một người mẹ Việt Nam trên xứ người. Một ngày nữa lại sắp qua đi...

Chu Thụy Nguyên ( Nguyễn Đắc Song Phương )

Bùi Thụy Đào Nguyên: Nhớ xóm Quýt , quê xa…

“Tháng chạp, quýt to bằng nắm tay trẻ nhỏ, da bóng lưỡng như ướt mỡ. Khi ấy gió dịu, trời ửng hồng sáng trong, nắng mới cũng vừa soi ấm vô vàn chùm quýt loà xòa, đung đưa…
“Tháng chạp, quýt to bằng nắm tay trẻ nhỏ, da bóng lưỡng như ướt mỡ. Khi ấy gió dịu, trời ửng hồng sáng trong, nắng mới cũng vừa soi ấm vô vàn chùm quýt loà xòa, đung đưa…Đến giữa tháng, quýt chín đỏ vườn …”
Đoạn văn trên tôi tả cảnh quê mình khi còn ngồi học lớp 5, mãi đến hôm nay vẫn còn in trong trí…

***

Quê nội, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, vỏn vẹn hơn 20 hộ, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông nhỏ thuộc dòng nước Hậu giang hiền hoà . Chốn ấy từ bao đời có tiếng vì giống quýt hồng thơm ngọt . Nhờ lẽ đó miền đất được người dân quen gọi bằng cái tên mộc mạc : xóm Quýt, dù đất đã có một tên khác khá thơ mộng: Yên Hạ .

Năm ấy cha tôi làm ăn thua lỗ, cha như người dại; còn mẹ tôi ngồi đâu dáng cũng thẫn thờ.Cuối mùa nước nổi cha phải bán nhà để trả nợ. Ông nội lụm cụm theo chú Tám từ dưới Cần thơ lên bàn bạc, dẫn dắt gia đình tôi về lại quê hương. Với số tiền ít ỏi còn lại , cha chỉ đủ mua hơn 2 công vườn quýt, cả nhà tôi đành ở tạm trong kho chứa củi của ông .

Tôi nhớ mãi buổi sáng hôm đó. Trời vừa bửng mắt, chú Tư đầu xóm cùng đứa cháu hè hụi vác đến mấy cây tre to, dài sọc . Chưa kịp lau mồ hôi, chú gọi vọng:“Sáu ơi, tao đem cho mấy cây tre đây…”.Cảm động xiết bao khi thím Bảy ở tận Bà Vèn bơi xuồng đem lại hơn 200 lá chằm dùng để che lợp. Còn chị Phương cũng vồn vã qua làm quen tôi bằng mấy bó dây buộc chẻ từ cọng lạt vừng …
Vậy đó, người góp công, người giúp của . Và ngày cha mẹ tôi dựng nhà, chòm xóm thân sơ đến dùm gíup thật đông . Không chỉ có vậy, nghe theo lời chú út Võ Tòng :“ Làm nghĩa phải cho trót…”, liên tiếp nhiều ngày sau , bà con tạm gác việc nhà đến làm cỏ, be bờ; tận tình chỉ vẽ cách bón phân , chiết nhánh …Sau này, gia đình tôi còn chịu ơn nhiều tấm lòng đáng qúi khác như thím Tư chia sẻ cặp heo giống, chị hai Liên dạy cho chị tôi nghề dệt chiếu bông …
Tôi cũng không quên được đêm giao thừa năm ấy . Tiết trời lành lạnh, nhà nhà đỏ lửa, mùi bánh tét, bánh phồng tỏa ngát xóm thôn. Nhờ tiền bán Quýt, sau khi trang trải một phần nợ, mẹ tằn tiện lo được nồi thịt kho rệu , sắm cho chị em tôi mỗi người một bộ áo quần.Chú Chín, bạn thân thiết của cha, sai con mang đến biếu một rổ bánh ít còn bốc khói . Bác Giáo cũng đem qua chè xôi, hai lít rượu nếp cẩm thơm để cúng ông bà. Còn đám trẻ mặt mày ai nấy đều hớn hở, xênh xang với áo màu, dép mới rủ tôi lên đình xem hội… Đã lâu, tôi vẫn như còn thấy sắc mai vàng, quýt đỏ khoe tươi; đôi má chị ửng hồng, mắt cha mẹ ánh trong và dòng sông nhỏ chảy thầm thì kia cũng ấm…

Lại có những đêm sân nhà ngập ánh trăng, hương hoa quýt thơm lừng. Các người thân hiểu gia đình tôi vừa gặp chuyện không may nên thường rủ nhau đến ngồi trước sân, đàn ca rôm rả. Già trẻ, gái trai trong xóm cũng xúm xít góp vui . Lẫn tiếng đàn cò, kìm, sáo, nhị là giọng ca mộc mạc, vụng về …vậy mà vẫn có sức quyến rũ lạ …

Và cũng thật xốn xang, khác với bạn bè trên phố phường , các bạn nơi xóm Quýt như Tí Cộc, 14 tuổi, chưa học xong lớp 4; Nghĩa Đen còn ễnh bụng tuyên bố:“ Làm cỏ mướn có tiền, đi học chẳng có xu nào!’’. Đổi lại, các bạn ấy nói vanh vách từng loại chim : thằng chài, chích choè, thầy bói…; tháng nào mù u trổ bông , cá lên đồng , xiết nước lúc nào cho quýt chín kịp tết .
Ngày trước làm văn, tôi hay ca ngợi thú vui nơi thôn dã, như trẻ thơ được mặc sức đùa giỡn, lặn hụp trên sông; được thi nhau vớt trái mù u để lấy dầu thắp sáng hoặc nhồi đất sét nặn voi, nắn ngựa…Sống lâu miệt đồng , tôi mới hiểu mọi chuyện không hoàn toàn như vậy. Sau giờ học các bạn ấy còn phải đi giăng câu, vớt bèo nuôi vịt hoặc làm cỏ, tưới cây …nghĩa là phải lem lấm, phải đổ mồ hôi để có thêm cái ăn, cái mặc, gánh vác tiếp mẹ cha mà phần lớn đều đông con, nghèo và ít hiểu biết …

…Sống nơi quê nội vui buồn như thế mấy năm , cậu Tám sắm được xe, mời cha tôi lên phụ giúp . Gia đình lại dắt díu nhau đi. Đêm trước khi xa quê, tôi lặng lẽ khóc, tuy lòng hé vui vì biết mẹ cha và chị sẽ vơi bớt nỗi nhọc nhằn . Nhưng không bùi ngùi sao được khi tôi phải xa ông bà nội, mặc dù tuổi cao vẫn hết lòng lo lắng, yêu thương con cháu; xa bà con xóm Quýt nghèo tiền nhưng giàu chữ nghĩa nhơn . Nhất là phải xa đám bạn bè hôi như cú mà thật thà như đất, xa vuông vườn tuổi thơ bé nhỏ đã cho gia đình tôi không biết bao nhiêu là hoa trái ngọt lành …

***
Tết này tôi có về xóm Quýt, quê xa . Thăm lại ông bà cùng bao người ơn đã giang tay đùm bọc gia đình tôi suốt một thời khốn khó . Tuy trên gương mặt, nếp nhăn có nhiều theo năm tháng ; nhưng qua ánh mắt tôi hiểu tấm lòng bà con vẫn đôn hậu như xưa.
Tôi chỉ buồn, khi nhịp sống nơi thành thị ngày một sôi nổi đi lên; những cảnh đời chốn vùng sâu chưa đổi thay mấy.Vẫn nhiều những tol, lá … nóng bức, ẩm thấp với mớ đồ đạc cũ kỹ.Vẫn là thứ ánh sáng qua nhiều trung gian , le lói buồn thiu…
Tôi nghe đâu mấy năm trước quýt được mùa, được giá ; nhiều hộ đã sắm được xe gắn máy , tivi…Mấy năm gần đây chén cơm của họ khá bấp bênh do giá thuốc sâu, phân bón vùn vụt tăng cao, nguồn nước tưới bị ô nhiễm và sâu “vẽ bùa” kháng thuốc nên chồi lá cứ vàng úa , quăn queo, hoa trổ rồi lại rụng, lũ kiến vàng lũ lượt bỏ đi . Đến khi vào mùa vụ thì quýt hồng không sao cạnh tranh nổi với lê,\táo nhập nên giá cả rẻ như bèo, như cho…

Tôi cũng dành nhiều thì giờ đi thăm hỏi bạn bè . Gặp lại nhau, ai nấy đều nửa mừng nửa tủi. Sáu Đèo, Khách, Bích; con nhà kha khá còn được học . Số đông bạn đành chịu dở dang về lam lũ với ruộng vườn . Thương Tí Cộc , Tâm Hô theo cha chú làm phụ hồ tận Sông Bé, ngày tết vẫn không về được .

Đêm đó , tôi ngồi bên nội cùng canh lửa cho nồi bánh nếp lá dừa, nghe bà kể chuyện người, chuyện đất … Về giống quýt hồng nhờ ai mà có, về bao nổi gian lao của cha ông thuở mở đất, khai nguồn . Bà cũng phiền trách mấy đứa con của thím Sáu không chịu làm gì chỉ ham mê rượu chè, đàn đúm, ngày đêm cứ tơ tưởng số tiền đất sẽ được bồi hoàn .

Tôi nghe mà lòng chạnh xót xa . Chợt nhớ lại ánh trăng đêm nào cùng lời ca cũ :“ Đất như người mẹ hiền tần tảo, vắt kiệt sức mình nuôi lớn các con …” Và cũng đêm đó tôi mơ thấy những đoàn tàu chở đầy quýt đỏ, những áo màu dự lễ hội kỳ yên, nghe lại giọng hát hò trên cánh đồng lúa mới và tiếng chị tôi reo vui khi đàn kiến trở về ….

Lẽ ra, tôi không nên viết thêm những câu buồn bã vào cuối mẩu chuyện này. Không hiểu sao có những chiều như hôm nay, lẫn trong những kỉ niệm êm đềm nơi xóm Quýt, hình bóng chị Phương thân thiết lại cứ hiện về.Nhớ mà đau, cha chị mất sớm; rồi vì mẹ vì em, chị bằng lòng lấy chồng người Đài loan cao tuổi và nghe đâu phải lâm cảnh đắng cay, mặn nhạt ở xứ người… Những ngày nơi xóm Quýt xưa kia, chiều nào chị cũng sang nhà rủ tôi đi quét lá quýt khô để dành nhóm bếp. Có lẽ chiều nay chị âm thầm ngồi đâu đó một mình , nhớ mẹ nhớ quê, nhớ cả khói lên trời …

BùiThuỵ Đào Nguyên

Dòng sông và nỗi nhớ

Thu về, xách giỏ đi câu

Ký ức xanh

Những độ thu vàng

Cứ thế thu đến! Cứ vậy thu đi!

Mùa núm mối

MÊNH MANG THƯƠNG NHỚ…

Ngưỡng cửa

Đồng Hành

Giàn hoa giấy ngày xưa

Người nhìn thấy trăng thật - Nguyễn Quang Thiều

Trà Sớm với “Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng“

Đợi những… rộn ràng

ÔNG CHỦ MÃO - PHẠM LƯU VŨ

Khe khẽ đông về

Về một bãi bờ sông Đáy

Mai Đào Còn Đó Vẫn Cười Với Xuân

Làng quê yêu dấu

Linh Nghiệm

Mùa táo chín

Những bài Tạp Văn đã chọn đăng trên HNPĐ ( Tập I )


.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ | Đọc Truyện | Chuyển chữ Việt ( Thanh Niên) |